Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025

Giới thiệu chung

Submitted by Ban biên tập Huyện Văn Lãng on 19 January 2018

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN VĂN LÃNG

1. Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý:

Văn Lãng là một Huyện miền núi, biên giới, có diện tích 567,41km2; nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm tỉnh lỵ 30 km, có đường quốc lộ 4A đi qua dài 32km. Đường biên giới Quốc gia giáp với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa dài 36 km.

Địa giới hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Tràng Định.

- Phía Nam giáp huyện Cao Lộc và huyện Văn Quan.

- Phía Đông giáp Quảng TâyTrung Quốc

- Phía Tây giáp huyện Bình Gia.

Với vị trí địa lý như trên, rất thuận lợi cho huyện Văn Lãng phát triển, giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội, từng bước hoà nhập với nền kinh tế của tỉnh và khu vực. Đặc biệt là phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ tại cửa khẩu và các cặp chợ đường biên giữa huyện Văn Lãng với Thị Bằng Tường, Quảng Tây - Trung Quốc.

b) Địa hình:

Địa hình chia cắt mạnh, có nhiều núi cao, xen kẽ là các cánh đồng thung lũng hẹp ven sông, suối và núi đá vôi.

Dạng hình núi đất là chủ yếu, có độ dốc trên 250 chiếm 88% diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, một số vị trí thấp có thể phát triển trồng cây ăn quả, trồng hồi…

- Dạng địa hình núi đá chủ yếu ở xã Tân Thanh, Tân Mỹ, Bắc Hùng, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Việt, thị trấn Na Sầm với diện tích khoảng 1.900 ha (chiếm 3,40% tổng diện tích tự nhiên).

          - Các dải thung lũng hẹp, vùng cánh đồng phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp có diện tích khoảng 7.557,7 ha (chiếm 13,32% tổng diện tích tự nhiên).

c) Khí hậu:

Huyện Văn Lãng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hàng năm được thể hiện 4 mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông). Mùa Hạ nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô hanh và ít mưa. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 240C.

Lượng mưa bình quân hàng năm: 1.540 mm, số ngày có mưa 134 ngày. Do sự phân bố lượng mưa không đồng đều nên gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và giao thông đi lại. Hạn hán kéo dài vào mùa khô.

Độ ẩm không khí bình quân từ 82% trở lên.

Hướng gió thịnh hành là Đông Bắc và Tây Nam. Đây là vùng không bị ảnh hưởng của gió bão, nên thích hợp cho trồng các loại cây dài ngày, đặc biệt là cây ăn quả.

d, Tài nguyên nước:

Về hệ thống sông ngòi: có sông Kỳ Cùng chảy qua địa bàn huyện dài hơn 33km, sông Văn Mịch chảy qua xã Bắc La hơn 5km; 4 dòng suối lớn: Tân Mỹ, Khuổi Slin, Khuổi Slao, Thanh Long và mạng lưới các khe suối nhỏ có khả năng cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Ngoài các hệ thống sông suối ra, huyện còn có các hồ, đập lớn, nhỏ như: Nà Pàn (Hoàng Văn Thụ), Kéo Páng (Nhạc Kỳ), Nà Pja (Bắc Hùng)…

đ, Tài nguyên khoáng sản: 

Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Văn Lãng nghèo nàn, trữ lượng nhỏ như: Quặng sắt ở xã Bắc Hùng, Tân Thanh…ngoài ra còn có núi đá vôi, cát, sỏi… có thể khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng.

2. Hành chính

Huyện Văn Lãng có 17 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Na Sầm (huyện lỵ) và 16 xã: Bắc HùngBắc LaBắc ViệtGia MiễnHoàng Văn ThụHoàng ViệtHội HoanHồng TháiNhạc KỳTân MỹTân TácTân ThanhThành HòaThanh LongThụy HùngTrùng Khánh.

3. Lịch sử

Huyện Văn Lãng được thành lập vào ngày 16 tháng 12 năm 1964 trên cơ sở hợp nhất 2 huyện Văn Uyên và Thoát Lãng.

Sau khi thành lập, huyện Văn Lãng gồm 2 thị trấn: Na Sầm, Đồng Đăng và 27 xã: An Hùng, Bắc La, Bảo Lâm, Bình Trung, Gia Miễn, Hành Thanh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Việt, Hội Hoan, Hồng Phong, Hồng Thái, Mỹ Cao, Nam La, Nhạc Kỳ, Phú Xá, Phượng Long, Song Giáp, Tân Lang, Tân Tác, Tân Thanh, Tân Việt, Tân Yên, Thành Hòa, Thụy Hùng A, Thụy Hùng B, Trùng Khánh, Trùng Quán.

Ngày 10 tháng 6 năm 1981, tách 6 xã: Hồng Phong, Phú Xá, Bình Trung, Bảo Lâm, Thụy Hùng A (sau đổi lại xã Thụy Hùng), Song Giáp và thị trấn Đồng Đăng để sáp nhập vào huyện Cao Lộc; sáp nhập xã Hành Thanh và xã Phượng Long thành một xã lấy tên là xã Thanh Long; sáp nhập xã Tân Yên và xã Mỹ Cao thành một xã lấy tên là xã Tân Mỹ; đổi tên xã Thụy Hùng B thành xã Thụy Hùng.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 818/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Lạng Sơn (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2020). Theo đó huyện Văn Lãng có 1 thị trấn và 16 xã như hiện nay.

4. Dân số, Dân tộc

- Toàn huyện có 49.925 người, 13.587 hộ (số liệu năm 2020); trong đó: Dân số nông thôn có 43.689 người; thành thị 6.236 người. Văn Lãng là huyện có ít thành phần dân tộc, có 4 dân tộc chính: Tày, Nùng, Kinh, Hoa cùng nhau sinh sống, trong đó chủ yếu là người Tày - Nùng; tỷ lệ người dân tộc là 92,6%.

5. Về phát triển kinh tế - xã hội:

5.1. Lĩnh vực kinh tế

Đến tháng 6, năm 2021, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp chiếm tỷ lệ 28,67% , ngành công nghiệp - xây dựng 30,90% , ngành dịch vụ 40,43%. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 34,5 triệu đồng.

* Nông, lâm nghiệp

          - Cây lương thực có hạt: Diện tích 4.958,79 ha, sản lượng 21.519,66 tấn

          - Độ che phủ rừng 71,08%

          - Một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung được hình thành và ngày càng mở rộng như vùng trồng Hồi, Hồng Vành Khuyên, vùng gỗ nguyên liệu: Vùng trồng Hồng Vành Khuyên tại 03 xã với diện tích 892 ha, sản lượng 2.103 tấn; vùng trồng hồi tại 03 xã, diện tích 2.150ha, sản lượng 2.450 tấn; vùng gỗ nguyên liệu với 14.000 ha.

- Tổng diện tích trồng cây thạch đen trên toàn huyện đạt 65,6ha

- Song song với trồng trọt ngành chăn nuôi luôn ổn định và có chiều hướng phát triển, tăng cả số lượng và chất lượng. Đến năm 2020 toàn huyện có hơn 5.905 con trâu; 1.234 con bò; 6.717 con lợn và 363.078 con gia cầm…; Diện tích nuôi cá nước ngọt duy trì 99ha; mô hình nuôi cá lồng của Hợp tác xã thủy sản Thác Xăng, xã Bắc La phát triển ổn định, hiện tại có 95 lồng (trong đó có 20 lồng phát triển mới năm 2021).

- Đến năm 2021 có 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới (Hoàng Văn Thụ, Tân Thanh, Bắc Hùng, Bắc Việt, Hoàng Việt); xây dựng được 09 khu dân cư kiểu mẫu (Hoàng Văn Thụ 03, Tân Thanh 03, Bắc Hùng 02, Bắc Việt 01); 22 thôn nông thôn mới tại 04 xã biên giới. Đến nay, bình quân mỗi xã đạt 12,6 tiêu chí/ xã, tăng 0,4 tiêu chí so với đầu năm 2021.

 - 03 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP, được UBND tỉnh Lạng Sơn phê duyệt: 02 sản phẩm Thạch đen Na Sầm, Rượu Hội Hoan đạt 3 sao; sản phẩm quả Hồng Vành khuyên đạt 4 sao.

* Giao thông, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tài nguyên môi trường

- Tỷ lệ cứng hóa đường ô tô đến trung tâm xã đạt 100; số hộ được dùng điện lưới quốc gia đạt 99,9%

- Một số sản phẩm công nghiệp giai đoạn 2015 - 2020:          Quặng bô xít 2.760 nghìn tấn; đá các loại 457 nghìn m3; gạch các loại 3,1 triệu viên; nước sạch 674,2 nghìn m3

- Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nội huyện mỗi năm đạt khoảng 9,4 triệu USD; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua địa bàn bình quân năm đạt trên 1.850 triệu USD

- Kinh tế du lịch có bước phát triển, mỗi năm thu hút khoảng 12 nghìn lượt khách du lịch. Hiện nay trên địa bàn có 01 khách sạn 3 sao, 09 nhà nghỉ, 01 nhà khách với 127 phòng nghỉ

- Hiện nay có 112 doanh nghiệp, hợp tác xã (tăng 41 doanh nghiệp, hợp tác xã so với năm 2015), giải quyết việc làm cho trên 1.000 lao động.

- Tỷ lệ thu gom rác thải đạt 95%; chất thải y tế được xử lý 100%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 96,4%; dân cư thành thị được sử dụng nước sạch đạt 100%.

5.2. Lĩnh vực văn hoá, xã hội

- Có 51 trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; 01 trường trung học phổ thông; 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên. Hiện nay có 19 trường học đạt chuẩn quốc gia.

- Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên có trình độ đại học 308; trình độ cao đẳng 599; trình độ trung cấp 230. Giáo viên dạy giỏi cấp huyện giai đoạn 2015 - 2020 835, cấp tỉnh 42.

- Về chất lượng học sinh giỏi các cấp giai đoạn 2015 - 2020: Cấp huyện đạt 838 giải; cấp tỉnh đạt 128 giải; cấp quốc gia 08 giải.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%

- 14/17 xã, thị trấn có bác sỹ; 100% thôn, khu phố có nhân viên y tế. Số xã, thị trấn đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế 12/17 xã đạt tỉ lệ 70,1%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 13,6%

- Hiện nay có 8/17 xã có nhà văn hóa xã, đạt tỷ lệ 47,5%; số thôn, khu phố có nhà văn hóa đạt tỷ lệ 100%. Kết quả gia đình văn hóa năm 2020 đạt 10.119/11604 = 87,2%, Khu dân cư văn hóa 154/185 = 83,2%.

- Tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 4,1%/năm; tổng số hộ nghèo năm 2020: 1.196 (tỷ lệ 8,85%), hộ cận nghèo 1.306 (tỷ lệ 9,66%); tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế chiếm 94,5%.

5.3. Công tác quốc phòng, an ninh, tư pháp, thanh tra và đối ngoại

- Công tác tuyển quân được triển khai thực hiện bảo đảm chất lượng, hằng năm đạt 100% chỉ tiêu tỉnh giao

- Hiện nay có 20 cơ sở dân quân tự vệ và 08 chi bộ quân sự xã, thị trấn.

- Tỷ lệ điều tra khám phá án đạt 94,0%, án nghiêm trọng đạt 100%

- Năm 2020, tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý 931 người

- Đã bố trí 85 cán bộ Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã (17 trưởng công an, 17 phó trưởng công an và 51 công an viên) tại 17 xã, thị trấn, đảm bảo mỗi xã, thị trấn có ít nhất 05 cán bộ Công an xã chính quy.

- Giải quyết đơn phản ánh, kiến nghị đạt tỷ lệ bình quân 99,16%; đơn khiếu nại, tố cáo đạt tỷ lệ 100%.

- Có 03 cặp cụm dân cư kết nghĩa bản - bản: Bản Nà Lầu, xã Tân Thanh - bản Pò Chài, thôn Khả Phong, trấn Hữu Nghị; bản Na Hình, xã Thụy Hùng - bản Quyên, thôn Anh Dương, trấn Hữu Nghị; bản Cốc Nam, xã Tân Mỹ - bản Lũng Nghiêu, thôn Khả Phong, trấn Hữu Nghị.

(Thông tin liên hệ sẽ được Phòng Văn hóa và Thông tin tiếp tục cập nhập, bổ sung)